
Hơn bảy thập niên đã trôi qua, nhưng âm vang của những ngày tháng lịch sử trên cánh đồng Mường Thanh vẫn còn vang vọng. Trong bối cảnh cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bước vào giai đoạn quyết liệt, với việc triển khai Kế hoạch Nava (1953) nhằm xoay chuyển tình thế trong vòng 18 tháng, thực dân Pháp – với sự hậu thuẫn của Mỹ – đã dốc sức xây dựng tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ thành pháo đài quân sự mạnh nhất Đông Dương. Với vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng, án ngữ vùng Tây Bắc và thông sang Lào, Điện Biên Phủ được kỳ vọng trở thành “cái bẫy” tiêu diệt chủ lực của ta.
Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, và sự chỉ huy tài tình của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, quân và dân ta đã nắm vững thời cơ, chủ động mở cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953–1954, buộc địch phải phân tán lực lượng và rơi vào thế bị động. Ngày 6-12-1953, Bộ Chính trị quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ – một quyết định mang tầm vóc lịch sử.
Điểm nổi bật thể hiện bản lĩnh, trí tuệ của nghệ thuật quân sự Việt Nam chính là quyết định chuyển phương châm tác chiến từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”. Quyết định này không chỉ thể hiện tư duy chiến lược sắc bén mà còn là sự lựa chọn đầy trách nhiệm trước sinh mệnh của bộ đội, trước vận mệnh của chiến dịch.
Sau gần 50 ngày chuẩn bị công phu, chiều 13-3-1954, quân ta nổ súng mở màn chiến dịch bằng trận tiến công Him Lam. Tiếp đó, các cứ điểm Độc Lập, Bản Kéo lần lượt bị tiêu diệt. Trong các đợt tiến công tiếp theo, quân ta vận dụng linh hoạt chiến thuật “vây lấn”, từng bước siết chặt vòng vây, cô lập và tiêu hao lực lượng địch. Hệ thống chiến hào được đào sâu, tiến sát từng cứ điểm – một sáng tạo độc đáo của chiến tranh nhân dân, làm nên thế trận áp đảo.
Đặc biệt, sự xuất hiện và phát huy hiệu quả của pháo binh đã tạo nên bước ngoặt quan trọng. Những khẩu pháo nặng hàng tấn được kéo bằng sức người vượt núi cao, đặt trên các trận địa hiểm yếu, khống chế toàn bộ lòng chảo Điện Biên Phủ – điều mà đối phương không thể ngờ tới. Ý chí “kéo pháo vào, kéo pháo ra”, tinh thần “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” đã trở thành biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam.
Trải qua 56 ngày đêm chiến đấu anh dũng, đến chiều 7-5-1954, lá cờ “Quyết chiến, quyết thắng” tung bay trên nóc hầm chỉ huy của tướng De Castries, đánh dấu thắng lợi hoàn toàn của Chiến dịch Điện Biên Phủ. Ta đã tiêu diệt và bắt sống toàn bộ tập đoàn cứ điểm, làm thất bại hoàn toàn Kế hoạch Nava, buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơnevơ, chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương.
Chiến thắng Điện Biên Phủ là kết tinh của nhiều nhân tố: sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng; sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tinh thần chiến đấu quả cảm của Quân đội nhân dân Việt Nam; và sự ủng hộ to lớn của hậu phương. Đó cũng là thắng lợi của đường lối chiến tranh nhân dân, của nghệ thuật quân sự độc đáo, sáng tạo Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.
Không chỉ có ý nghĩa đối với dân tộc Việt Nam, Chiến thắng Điện Biên Phủ còn mang tầm vóc quốc tế sâu sắc, góp phần làm sụp đổ hệ thống thuộc địa kiểu cũ, cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh.
Kỷ niệm 72 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ là dịp để chúng ta ôn lại trang sử hào hùng, tri ân sâu sắc các anh hùng liệt sĩ, đồng bào, chiến sĩ đã hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Đồng thời, đó cũng là lời nhắc nhở mỗi chúng ta hôm nay tiếp tục phát huy truyền thống yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, đoàn kết, sáng tạo, chung sức xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày càng giàu mạnh, văn minh.
Âm vang Điện Biên năm xưa vẫn còn mãi – như một bản hùng ca bất diệt, hun đúc niềm tin, ý chí và khát vọng vươn lên của dân tộc Việt Nam trên hành trình phát triển hôm nay và mai sau.
TTCUDVC đưa tin